Một thời để nhớ

MỘT THỜI ĐỂ NHỚ

MỘT THỜI ĐỂ NHỚ

Nhà giáo ưu tú Đỗ Trọng Thấn- Nguyên Hiệu trưởng nhà trường

 

Năm mươi năm như một dấu son

Cứ hiện hữa một thời để nhớ

 

 

     Một ngày cuối đông, đầu tháng 12 năm 1965, tôi đang công tác tại phòng THPT của Ty Giáo dục Thái Bình thì được Tỉnh điều động về phụ trách trường cấp 3 Phụ Dực thay anh Phạm Văn Lũy chuyển công tác mới. Tôi cùng anh Trần Văn Cầu - trưởng phòng Tổ chức cán bộ của Ty Giáo dục đến gặp Huyện ủy, UBND huyện Phụ Dực rồi chúng tôi xuống thẳng thôn An Mỹ (xã An Dục) nơi trường sơ tán trong tâm trạng vừa mừng vừa lo trước nhiệm vụ quá lớn so với tuổi 30 của tôi lúc đó.

    50 năm rồi, vạn vật cũng đã có nhiều thay đổi. Những tình cảm vui buồn thương nhớ đan xen cứ ùa về vang vọng mãi trong tôi như một bài ca không bao giờ quên.

    Trường cấp 3 Phụ Dực thuộc Ty Giáo dục Thái Bình được thành lập vào tháng 8 năm 1965 là một trong 08 trường mới mở trên tổng số 13 trường cấp 3 của Tỉnh, nằm trên dải đất dọc theo đường 10 Thái Bình- Hải Phòng, giữa một vùng quê trù phú có vị thế hội đủ các yếu tố của vùng đất “ Địa linh nhân kiệt”. Phía Tây là An Thái -di tích thời Trần đã được xếp hạng; Phía Đông là xã An Mỹ- quê hương của 07 tiến sĩ thời Trần- những nhà nho tiết tháo, kinh luân; Phía Nam là Miếu Sổ -An Vũ, nơi ra đời của chi bộ Đảng đầu tiên của huyện Quỳnh Phụ.

   Ngày đầu mới thành lập, trường ở An Bài có 04 lớp, 03 lớp 8 (mới) và 01 lớp 9 của trường cấp 3 Quỳnh Côi chuyển về với 204 học sinh và 12 cán bộ giáo viên. Trong những năm chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ, trường đi sơ tán nhiều nơi: từ An Bài đi An Dục (1965), năm 1966 trường chuyển về cầu Hạ- An Ninh. Sau đó lại phải sơ tán về các thôn Bắc Hải, Mai Trang, Lai Ổn xã An Qúy. Đầu năm 1982 trường lại chuyển về Tư Môi- An Bài.

   Trường cấp 3 Phụ Dực sinh ra trong chiến tranh chống Mỹ lai nằm gọn trong thời kỳ bao cấp tập trung, do dó trường có nhiều khó khăn chồng chất: lớp học dựa vào dân, nhà kho, lán trại . Chưa có thư viện, phòng thí nghiệm, loa đài, điện chiếu sáng như hôm nay. Cả trường chỉ có một chiếc đài Orion tông của Hung-ga-ri và một loa nén 9 Oát của Trung Quốc do trên cấp, vừa là loa phát thanh vừa là thu thanh do thầy Tiến Hiệu phó quản lí, hàng ngày đưa đến nhà ăn để anh em nghe tin tức. Tôi còn nhớ thời đó SGK , đồ dùng thi nghiệm còn đựng trong các bồ và sọt tre.

   Ngày 13/8/1965, không quân Mỹ bắt đầu đánh phá Thái Bình. Đế quốc Mỹ đã đánh Thái Bình 1592 trận, ném 2423 tấn bom đạn xuống 207/279 xã và các mục tiêu khác như bệnh viện, trường học. Đặc biệt ngày 20/10/1966, Mỹ đánh bom trường cấp 2 Thụy Dân- Thái Thụy, giết hại cô giáo Bùi Thị Thanh Xuân và 30 học sinh.

   Chiến tranh phá hoại ngày càng ác liệt, lúc Mỹ ngừng bắn (1968), lúc Mỹ đánh phá trở lại (1972), vì vậy các trường càng phải cơ động cảnh giác để ứng phó với mọi tình huống. Rời bỏ nhà xây mái ngói tập trung, trường chuyển về các lán trại, tranh tre nứa lá ở các xóm nhỏ sau lũy tre xanh, có tường lũy dày hàng mét với hào dài thông, hầm kèo chữ A bao quanh.

      Thực hiện lời dạy của Bác Hồ trong Thư gửi giáo viên, học sinh ngày 15/10/1965: “ Dù khó khăn đến đâu cũng phải tiếp tục thi đua dạy thật tốt, học thật tốt”. Với quyết tâm “ Đội mũ rơm đi học đường dài”, các nề nếp dạy và học đã được trường tổ chức sắp xếp lại chặt chẽ, cụ thể hơn như soạn bài, thông qua bài trước một tuần, lên lớp phải đủ năm bước sư phạm, ra vào lớp đúng giờ, ghi sổ đầu bài chi tiết nghiêm túc, phân công giáo viên, học sinh trực phòng không… Nề nếp học tập của học sinh vẫn duy trì hình thức học tổ, nhóm có sự kiểm tra giám sát của giáo viên bộ môn, giáo viên chủ nhiệm lớp. Quên sao được những hìn ảnh thầy, cô giáo đêm đêm với ngọn đèn chai leo lét xuống các cơ sở nhà trọ của học sinh để kiểm tra các em tự học. Nhờ đó chất lượng giáo dục dạy và học vẫn được giữ vững. Kết quả thi Tốt nghiệp lớp 12 lần đầu tiên đạt 97%; Học sinh giỏi lần đầu ra quân ( 1966) đạt thành tích rực rỡ: đội tuyển Toán lớp 8 gồm bốn em Phùng Thanh Ky, Nguyễn Duy Khang, Nguyễn Đình Tấn, Trịnh Minh Ảnh do thầy Võ Khắc Đôn đạt Giải Nhất đồng đội cấp Tỉnh ; Văn 9 Nhất em Vinh do thầy Nghị dìu dắt, Toán 9 Nhất em Nguyễn Hữu Đạt do thầy Thắng bồi dưỡng.

      Cùng với chất lượng văn hóa, chất lượng các hoạt động văn nghệ thể thao đã trở thành nề nếp, thành kỉ niệm khó quên của tuổi trẻ ngày đó. Tôi còn nhớ trong đêm chuẩn bị hành quân tại sân kho thôn An Mỹ xã An Dục, em Hải quê An Hiệp, học sinh nữ lớp 8B đã ngất xỉu do quá xúc động, quá hồi hộp khi nghe thầy Hiệu trưởng đọc lệnh hành quân trong đêm. Dẫu vậy, cuộc hành quân vẫn tiếp tục. Dưới ánh trăng mờ ảo, các chiến sĩ trong “tiểu đoàn” đã lên thuyền vượt sông Hóa tập kết về thôn Cao Mộc xã Đồng Tiến đúng giờ G.

      Ai đã là học sinh thời đó, chắc không quên những đêm hội diễn văn nghệ với tinh thần “Tiếng hát át tiếng bom ” qua vở kịch nói Chiếc va li khủng khiếp do em Trường Vinh thủ vai Cố Văn Mỹ, em Trương Thụ Miên đóng vai kí giả. Vở  Nổi gió do em Huệ quê An Vinh sắm vai chị Sứ bát khuất. Đặc biệt là đêm múa Hoa Chăm-pa do hai em Na và Vân lớp 9C biểu diễn liên hoàn tưởng không thể dứt trong đêm.

      Nói về hoạt động của trường mà không nói đến đội ngũ cán bọ giáo viên thì thật đáng trách. Trường thành lập năm 1965 nhưng mãi đến tháng 2 năm 1967 tôi mới có quyết định giữ chức Hiệu trưởng và anh Vũ Duy Tiến là Hiệu phó, cũng từ đó trường mới có Ban giám hiệu, mới có Chi bộ Đảng thay cho tổ Đảng vẫn sinh hoạt ghép với chi bộ phòng Giáo dục. Đội ngũ chúng tôi hồi đó thực sự là một tổ ấm, một tập thể sư phạm trách nhiệm mẫu mực, đầy ắp nghĩa tình. Trường là nhà, học sinh là bạn, đồng nghiệp là người thân. Một thời sống vô tư, học vô tư, dạy vô tư. Chúng tôi ăn, ở tập thể, bác Táo cấp dưỡng chu đáo như người chị lớn. Nhịp sống của một trường huyện quê lúa tĩnh lặng chan hòa, ấm áp: Người Hà Nội thanh lịch; người miền Trung vui nhộn giọng trầm hơi nặng; Người Thái Bình, Thanh Hóa cần cù chất phác… Nam Bắc một nhà gần gũi yêu thương. Năm học 1966/1967 có 8/24 người là cán bộ giáo viên tập kết, mọi sinh hoạt cuộc sống không hề có ngăn cách. Đặc biệt trong chiến tranh và sau ngày hòa bình lập lại, nhiều thầy cô giáo đã lên đường chi viện cho chiến trường miền Nam, đi làm nhiệm vụ Quốc tế như sang chiến trường Lào có tôi và anh Bùi Đức Đạt, vào chiến trường miền Nam có các đồng chí Nghị, Thuân, Hoa, Thành, Nghĩa, Thông. Sau này hầu hết giáo viên miền Nam đều đã trở về Nam phục vụ quê hương của mình.

     Đại thắng mùa xuân năm 1975, cả nước độc lập thống nhất đi lên chủ nghĩa xã hội, đã mở ra một giai đoạn mới cho đất nước, cho sự nghiệp giáo dục trong đó có các trường cấp 3.

        Từ tháng 9/1982 tới nay, trường luôn ổn định và phát triển với quy mô ngày càng lớn và tốc độ nhảy vọt. Trường vinh dự được Nhà nước tặng thưởng nhiều danh hiệu thi đua và các loại huân chương cao quý.

       Suốt nửa thế kỷ xây dựng và trưởng thành, trường cấp 3 Phụ Dực ngày xưa, nay là THPT Phụ Dực đã có “thương hiệu”, xứng đáng là trung tâm văn hóa của địa phương, là niềm tự hào, là địa chỉ tin cậy của nhiều thế hệ học sinh trong và ngoài huyện.

      Nhân kỉ niệm 50 năm ngày thành lập trường, tôi viết bài này với ý thức “Ôn cối tri tân” và muốn nhắn nhủ  với các thế hệ đi sau, đặc biệt là lớp học sinh sau 1975 rằng: chúng ta càng tự hào trước những thành thành tựu to lớn của nhà trường, chúng ta càng phải biết trân trọng nâng niu những gì đã có, đã được xây dựng chắt chiu từ thuở ban đầu. Cái thuở:

Cuộc sống tuy nghèo mà vẫn vui,

Vẫn cứ hào hoa sáng nụ cười.

Đạo nghĩa thầy trò trong như ngọc,

Ân tình bè bạn chẳng hề vơi .

 

Nguồn: thptphuduc.edu.vn
Bài tin liên quan
Tin tức
Tin tức
Tin đọc nhiều